Thống Kê Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1315
mod_vvisit_counterHôm Qua4569
mod_vvisit_counterTuần Này12676
mod_vvisit_counterTuần Trước19441
mod_vvisit_counterTháng Này64447
mod_vvisit_counterTháng Trước110735
mod_vvisit_counterTổng Truy Cập1386044

Số Người Online

We have 250 guests online

Logo-FicoTrading

npp

A+ R A-

Chạy theo màu sắc của xi măng

Chạy theo màu sắc của xi măng

Xi Măng Đa DụngTừ ba chục năm trở về đây, khác với các nước có công nghiệp xi măng trên thế giới, xi măng Pooc Lăng thông thường của nước ta, đã có sản lượng gần 40 triệu tấn, thì cả 40 triệu tấn có màu "xanh xám đậm".

Thực tế, trên thế giới cũng như ở nước ta, tại một nhà máy xi măng Pooc Lăng thông thường, với công nghệ truyền thống, để khống chế Clinker luôn luôn có màu xanh xám đậm rất khó, nó khó bởi ba lý do sau đây:

- Từng vỉa nguyên liệu, có sự phân bố hàm lượng các oxyd màu khác nhau;

- Thành phần và độ ẩm không khí tại mỗi thời điểm luôn luôn thay đổi, dẫn đến môi trường trong lò nung khi thì môi trường oxy hoá, lúc môi trường khử;

- Quan điểm sử dụng hàm lượng oxyt sắt cho vào phối liệu đối với mỗi nhà máy cũng khác nhau.

Trong từng nhà máy riêng rẽ đã vậy, với hàng trăm nhà máy để có màu sắc xanh xám đậm như nhau là rất khó.

Ở nước ta, để có 40 triệu tấn xi măng Pooc Lăng thông thường có màu xanh xám đậm, khác với các nước trên thế giới, các nhà sản xuất xi măng nước ta đã áp dụng một giải pháp công nghệ đặc biệt, khi nghiền Clinker pha thêm một loại phụ gia đá đen với tỷ lệ thích hợp, lập tức xi măng sẽ có màu xanh xám đậm.

Như vậy, muốn có xi măng Pooc Lăng thông thường có màu xanh xám đậm, phải có phụ gia đá đen.

Rất nhiều nhà máy xi măng không có nguồn phụ gia đá đen tại chỗ, phải khai thác đá đen cách nhà máy hàng trăm, hàng ngàn cây số.
Có hàng trăm nhà máy, có hàng trăm phương án tìm kiếm, khai thác đá đen. Sau đây là một số ví dụ thực tế.

Tại xã Lại Xuân, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng có một vỉa đá đen nằm sâu trong lòng đất, đi qua một bãi tha ma. Các ông chủ khai thác đá đen đã chi tiền cho các gia chủ có những ngôi mộ, di dời, lấy mặt bằng khai thác.

Khi đến kho nguyên liệu trạm nghiền xi măng Hải Vân, Đà Nẵng, bất ngờ thấy loại phụ gia đá đen, độ đen như mực của các ông đồ nho xưa.

Nhà máy xi măng Chin Fon ở Hải Phòng, vào tận Bà Rịa – Vũng Tàu khai thác loại phụ gia đá đen. Mỗi năm sử dụng khoảng 200-300.000 tấn. Nếu dùng tàu biển trọng tải 1000 tấn, hàng năm phải sử dụng 200-300 chuyến tàu biển với cự ly trên 2000km.

Dọc hai phía trên đoạn đường quốc lộ số 1, từ Phủ Lý (Hà Nam) đến Hoàng Mai (Bắc Nghệ An), khoảng hơn 100 km. Có 7 nhà máy xi măng, sản lượng hơn 10 triệu tấn. Hàng năm tiêu thụ hơn 1.000.000 tấn phụ gia đá đen. Các nhà máy ở đây sử dụng loại đá bazal miền Tây Nghệ An, dùng tàu hoả để vận chuyển, phải sử dụng khoảng 2000 chuyến tàu hoả (vì mỗi đoàn tàu hoả tối đa chở được 500 tấn/chuyến).

Với một vài ví dụ cụ thể như đã nêu, hàng năm, đã 30 năm và còn tiếp tục, chắc chắn nền kinh tế nước ta đã phải lãng phí hàng triệu tấn xăng dầu.

Chúng ta có đầy đủ luận cứ khoa học, pháp lý để loại trừ ám ảnh xi măng Pooc Lăng thông thường phụ thuộc vào màu sắc ra khỏi đời sống xã hội nước ta.

1. Đã gần 200 năm, kể từ ngày xi măng Pooc Lăng thông thường ra đời, nhân loại đã hoàn chỉnh lý thuyết và công nghệ sản xuất và nhận thấy rằng: màu sắc của Clinker xi măng Pooc Lăng thông thường là một tính chất vật lý có sự tham gia của phản ứng hoá học, thường xuyên xảy ra trong quá trình sản xuất. Nhưng tính chất này không phải là yếu tố tác động đến cường độ chịu nén của xi măng hoặc có nhưng không đáng kể, vì thế, yếu tố màu sắc xi măng Pooc Lăng thông thường, được bỏ qua trong quá trình sản xuất, không tác động đến chất lượng xi măng và cũng không có giá trị sử dụng. Xi măng sản xuất muốn ra màu gì thì tuỳ nó, miễn là đạt được các chỉ tiêu vật lý và hoá học như trong tiêu chuẩn nhà nước quy định là đủ.

2. Hầu hết các nước có công nghiệp xi măng trên thế giới đều có tiêu chuẩn chất lượng. Tiêu chuẩn chất lượng ISO về xi măng là tiêu chuẩn thế giới có uy tín.

Nước ta có 2 tiêu chuẩn về xi măng Pooc Lăng thông thường là TCVN 6260-1997 và TCVN 6282-1999. Tất cả tiêu chuẩn nước ngoài, thế giới cũng như ở nước ta về xi măng Pooc Lăng thông thường, không có một điều khoản nào ghi trong tiêu chuẩn, bắt buộc nhà sản xuất phải tuân thủ một loại màu sắc nào đối với loại xi măng này.

Như vậy, các nhà sản xuất xi măng Pooc Lăng thông thường ở nước ta khi sản xuất loại xi măng này không cần quan tâm đến màu sắc.

3. Mỗi nhà máy xi măng, trước khi xây dựng, luận chứng kinh tế kỹ thuật đã được nhà nước phê duyệt, trong đó có giải trình nguồn phụ gia tại chỗ, đủ phục vụ cho nhà máy suốt trong thời gian hoạt động. Vì xi măng Pooclăng thông thường không phụ thuộc vào màu sắc, nên phụ gia là phần phụ cho thêm vào cũng không phụ thuộc vào màu sắc. Trong tiêu chuẩn phụ gia của nhà nước cũng chẳng có điều khoản nào quy định về màu sắc phụ gia để buộc nhà sản xuất phải tuân theo. Hầu hết các nhà máy xi măng của nước ta khi xây dựng xong, đưa vào sản xuất đã không sử dụng đúng phụ gia truyền thống, vì màu sắc không đen, đã khai thác phụ gia đá đen nơi khác về sử dụng. Tại nhà máy xi măng Bỉm Sơn, trong luận chứng kinh tế kỹ thuật, các nhà địa chất đã tìm kiếm, thăm dò cho nhà máy một mỏ phụ gia gần cổng nhà máy. Đây là tro bụi của núi lửa. Loại mà người La Mã đã sử dụng cách đây hơn 2000 năm, lấy trên ngọn đồi có tên là Pouzzolan để xây dựng thành La Mã, đây là loại phụ gia cho xi măng cực tốt, hiếm, được các chuyên gia Liên Xô khuyến cáo sử dụng, nhưng nhà máy không dùng vì màu sắc của nó không được đen.

Phụ gia dù đen hay không đen, phụ gia hoạt tính hay phụ gia lười, khi pha với Clinker sẽ làm giảm mác Clinker, đưa xi măng về mác mà nhà sản xuất đăng ký với Nhà nước.

Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng tiêu cực về xi măng Pooc Lăng thông thường phải màu xanh xám đậm, bao trùm toàn bộ các nhà sản xuất xi măng ở nước ta. Nhắc lại nguyên nhân này là nhớ về đất nước trong những ngày chiến tranh và trong thời kỳ khó khăn về kinh tế.

Trong cuộc chiến tranh chống không quân của đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc, Nhà máy Xi măng Hải Phòng là mục tiêu bị đánh phá ác liệt, kể cả máy bay B52 rải thảm vào nhà máy. Có thời điểm nhà máy bị hố bom dày đặc, hàng ngàn tấn bê tông nhà bao che, hàng 100 tấn thiết bị đổ nát. Nhà máy có 6 trạm biến thế, tất cả bị xoá sổ. ống khói bị bom phạt bẻ gãy, miệng nham nhở giống như cái cây bị bão xô đổ. Những lúc như vậy, tưởng chừng Nhà máy bị xoá sổ. Chấp hành mệnh lệnh của Chính phủ hồi ấy: "Dù bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải phục hồi nhà máy, để có xi măng phục vụ chiến đấu".

Trong hoàn cảnh ác liệt như thế, nhà máy vẫn cung cấp đủ xi măng cho quốc phòng, khôi phục các đường băng sân bay phản lực bị đánh phá, cung cấp xi măng thoả mãn xây dựng các sân bay dã chiến, các công trình quân sự và dân sự.

Có ai hôm nay có thể hiểu nổi, trong hoàn cảnh ác liệt, bom đạn liên miên như thế mà Nhà máy Xi măng Hải Phòng hồi ấy vẫn có xi măng xuất khẩu.

Năm 1969, trong một hợp đồng xuất khẩu xi măng cho Singapore. Khi đàm phán, 2 bên thoả thuận về giá cả, số lượng, tiến độ giao hàng, còn về chất lượng đồng ý lấy tiêu chuẩn xi măng của Vương Quốc Anh hồi đó, có ký hiệu BS12-58 làm chuẩn cho người mua và người bán.
Khi giao hợp đồng cho khách, ông Trưởng phòng thí nghiệm Nhà máy Xi măng Hải Phòng hồi ấy, giao thêm cho khách một lọ thuỷ tinh đựng mẫu "Xi măng màu xanh xám đậm". Tiêu chuẩn chất lượng của Vương Quốc Anh, hồi ấy và cả hiện nay, cũng không có điều khoản nào quy định về màu sắc, bắt buộc nhà sản xuất phải tuân thủ. Việc trao thêm lọ xi măng mầu màu xanh xám đậm là điều xưa nay không có trong hợp đồng buôn bán loại xi măng Pooc Lăng thông thường trên thế giới.

Lần đầu tiên tàu biển Singapore cập cảng Hải Phòng nhận xi măng, nhà máy xi măng đã rót xuống tàu được hai mã hàng bằng cần cẩu mỏ vịt, được khoảng mấy tấn xi măng. Ông thuyền trưởng ra lệnh cho ngừng công việc, với lý do xi măng không đảm bảo chất lượng, vì màu sắc xi măng đang giao không xanh xám đậm, như trong lọ mẫu đã trao tay khi ký hợp đồng mà ông truyền trưởng khi nhận đã mang theo cùng với hợp đồng.

Nhà máy Xi măng Hải Phòng khi đó đã đề nghị ông thuyền trưởng cho tàu neo đậu ở cảng, chờ sản xuất đợt xi măng khác, có màu xanh xám đậm để giao.

Nhà máy đã cố gắng hết sức, nhưng xi măng màu xanh xám đậm không ra lò. Hậu quả, tàu neo đậu ở cảng quá lâu. Cảng Hải Phòng phạt dôi nhật chủ tàu. Chủ tàu phạt Nhà máy Xi măng Hải Phòng với số tiền lớn hơn, với lý do làm thiệt hại tàu.

Hợp đồng với khối lượng lớn, phải giao nhiều đợt. Mỗi khi nghe tin tàu Singapore cập cảng lấy xi măng màu xanh xám đậm, giám đốc và công nhân nhà máy rất lo lắng, nhà máy đành phải phát động đợt thi đua "sản xuất xi măng màu xám đậm xuất khẩu".

Khi chuyến hàng cuối cùng giao nhận trót lọt. Cả nhà máy ai cũng bảo, vấn đề xi măng màu xanh xám đậm từ nay sẽ chôn sâu vào quá khứ. Câu chuyện có thật vừa kể còn có hàng ngàn cán bộ, công nhân Nhà máy xi măng Hải Phòng, đã làm việc hồi đó, hiện còn, làm chứng.
Trong cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp, ngoài việc bom đạn làm hư hỏng đổ nát nhiều công trình kiến trúc, cầu cống. Theo chiến lược vườn không, nhà trống, chúng ta đã tiêu huỷ nhiều thành phố thị xã.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc bị không quân Mỹ phá hoại, miền Nam nhà cửa, thành phố bị tàn phá do bom đạn trực tiếp.

Sau 30 năm chiến tranh, hoà bình lập lại, cả nước là một đại công trường, khi đó cả nước chỉ có 2 nhà máy xi măng là Hải Phòng và Hà Tiên, thiết bị lạc hậu, công suất cả hai nhà máy chỉ trên 1 triệu tấn xi măng.

Sự khan hiếm xi măng những ngày đầu sau ngày miền Nam giải phóng là vô cùng căng thẳng, còn căng thẳng hơn cả Châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ II. Xi măng ở nước ta hồi ấy, giá buôn bán trao tay có lúc lên đến 2.000đ/tấn, trong khi giá vàng 200 đồng/chỉ. Bọn gian thương lợi dụng tình hình, những lò xi măng giả mọc lên khắp nơi. Bọn chúng không từ một thủ đoạn nào kể cả phơi đất sét khô, nghiền mịn, cho vào vỏ bao xi măng cũ, đem bán làm giàu.

Nhiều nhà dân xây dựng phải xi măng giả. Khi tháo cốp pha, cả chủ và thợ bị vùi trong đống đổ nát.

Nhiều cán bộ vật tư, đi mua được xi măng thật, đem bán cho gian thương, mua xi măng giả nhập cho cơ quan, xí nghiệp.

Nạn xi măng giả làm xã hội bức xúc. Nhiều người tới tận nơi sản xuất hỏi kinh nghiệm nhận biết xi măng thật. Nhiều người đã trả lời: "Hãy tìm xi măng xanh xám đậm mà mua, đây là xi măng tốt, vì nhà máy sản xuất loại này để xuất khẩu".

Từ một người, lan ra hàng triệu người, gây lại áp lực với nhà sản xuất.
Tin tức từ cả nước phản ánh về nhà máy, xi măng nhà máy bán trong quầy hàng không tốt, vì màu không xanh xám đậm.

Giám đốc tổ chức họp liên miên, nhưng vẫn không tìm ra được giải pháp. Phiên họp cuối cùng giám đốc kết luận: "Bất cứ giá nào, phải coi khách hàng là thượng đế, phải sản xuất ra xi măng màu xanh xám đậm bằng bất cứ giá nào".

Sau đó, một sáng kiến mới ra đời: "Pha phụ gia đá đen cùng nghiền với Clinker"

Sáng kiến này đã tồn tại ba mươi năm, gây thiệt hại vô cùng lớn cho người tiêu dùng và cho nền kinh tế. Duy chỉ có nhà sản xuất là không bị thiệt hại vì đã được cấu tạo vào giá thành.
Nhà sản xuất xi măng cung cấp cho xã hội một loại sản phẩm, đây cũng là nghĩa vụ và trách nhiệm xã hội giao phó, ngược lại, hơn ai hết nhà sản xuất được hưởng gia tài tri thức của nhân loại có được về xi măng. Nhà sản xuất xi măng chỉ có thể hướng dẫn người tiêu dùng và cung cấp cho người tiêu dùng loại sản phẩm chất lượng ngày càng tăng.

Ba mươi năm qua ít có nước nào trên thế giới có bước nhảy vọt về sản lượng xi măng như ở nước ta, từ chỗ một triệu tấn một năm lúc đầu, nay đã có 40 triệu tấn/năm, sau 30 năm. Châu Âu sau 10 năm kết thúc chiến tranh thế giới thứ II, xi măng mác thấp không còn. Đã 30 năm xi măng mác thấp PCB 30 của nước ta vẫn là chủ yếu. Hiện nay trong ngành xây dựng tỷ lệ công trình chất lượng cao chiếm đa số, trong khi chất lượng xi măng vẫn thấp không theo kịp ngành xây dựng.

Nhà nước cần tạo điều kiện giúp các nhà sản xuất xi măng bằng cách chấm dứt hiệu lực tiêu chuẩn xi măng hỗn hợp. Vì tiêu chuẩn này cho phép nhà sản xuất pha 40% phụ gia. Các nhà sản xuất phần lớn đăng ký với Nhà nước sản xuất xi măng mác thấp của tiêu chuẩn này.
Màu xanh xám đậm của xi măng Pooc Lăng thông thường không giúp ích nâng cao cường độ của xi măng và cũng không có giá trị sử dụng. Rõ ràng đây là một hiện tượng "ảo". Hiện tượng này do nhà sản xuất gây nên và chính nhà sản xuất xi măng đã mắc bẫy 2 lần, lần thứ nhất xi măng xuất khẩu, lần thứ hai, 30 năm sản xuất xi măng nội địa. Người tiêu dùng chân chính mong mỏi nhà sản xuất có giải pháp từ bỏ lệ thuộc màu trong sản xuất xi măng Pooc Lăng thông thường, tạo thuận lợi cho nhà sản xuất và làm lợi cho nền kinh tế.

Tiêu chuẩn xi măng Pooc Lăng thông thường của Việt Nam, không có điều khoản nào quy định bắt buộc nhà sản xuất phải tuân thủ màu sắc. Trong công nghệ và thực tế trên thị trường, nhà sản xuất đã biến loại xi măng Pooc Lăng thông thường thành loại có màu sắc, gây thiệt hại cho nền kinh tế. Đôi điều tâm huyết, mong các nhà quản lý, các nhà sản xuất và người tiêu dùng cùng lưu tâm từ bỏ thói quen lấy màu sắc xi măng làm tiêu chuẩn đánh giá chất lượng.

Nguyễn Văn Thụy- Tạp chí NXD